Loading...

Vận dụng các quy luật, yếu tố của kinh tế thị trường vào thực tiễn cải cách hành chính nhà nước - giải pháp quan trọng để xây dựng thành công Chính phủ kiến tạo phát triển ở Việt Nam hiện nay

Ngày đăng: 17/10/2019 - 10:10

Trong bối cảnh Việt Nam lựa chọn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Chính phủ đã xác định rõ mục tiêu xây dựng Chính phủ mới, đó là “Chính phủ kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động quyết liệt, phục vụ nhân dân”. Xây dựng Chính phủ kiến tạo phát triển phù hợp với giai đoạn phát triển mới cần tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó có cải cách hành chính nhà nước. Vận dụng các quy luật, yếu tố của kinh tế thị trường vào thực tiễn cải cách hành chính nhà nước là một trong những giải pháp quan trọng để xây dựng thành công Chính phủ kiến tạo phát triển ở Việt Nam hiện nay.

1. Nhu cầu thực hiện cải cách hành chính nhà nước trong bối cảnh xây dng Chính ph kiến to phát trin Vit Nam

Chính phủ kiến tạo phát triển trước hết là Chính phủ kiến tạo chủ động thiết kế hệ thống chính sách và pháp luật để đất nước phát triển. “Chính phủ kiến tạo phát triển là tạo ra sự chủ động hơn cho nên bộ máy Chính phủ năng động hơn và có sáng kiến nhiều hơn, nghiên cứu thế giới xung quanh nhiều hơn để áp dụng đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước trong điều hành như thế nào để chủ động tốt hơn chứ không phải rơi vào thế bị động”1. “Nhà nước không làm thay thị trường, những khu vực nào thị trường có thể làm được, doanh nghiệp tư nhân có thể làm được thì Nhà nước không can thiệp, thay vào đó là tạo điều kiện cho các doanh nghiệp làm”2. Chính phủ kiến thiết được môi trường kinh doanh thuận lợi; không ngừng nâng cao cht lượng an sinh xã hi để phc v người dân tt nht, trước hết là trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, thể thao, văn hóa. Chính phủ kiến tạo là Chính phủ hành động, nói đi đôi vi làm, đề cao trách nhim cá nhân, k lut, k cương. Giữa Chính phủ điều hành và Chính phủ kiến tạo có sự khác biệt, cụ thể là nếu Chính phủ điều hành chỉ điều hành trên khung khổ pháp luật, thì Chính phủ kiến tạo chủ động hơn về thể chế và chính sách pháp luật, tạo môi trường thuận lợi hơn cho đầu tư phát triển. Có th khng định, cải cách hành chính đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc xây dng thành công Chính ph kiến to phát trin.

Cải cách hành chính là trọng tâm của việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, vấn đề này đã được Đảng ta xác định trong Hội nghị Trung ương 8 khóa VII (tháng 01/1995) với mục tiêu xây dựng một nền hành chính trong sạch, có đủ năng lc, từng bước hiện đại hóa để quản lý có hiệu lực và hiệu quả công việc của Nhà nước, thúc đẩy xã hội phát triển lành mạnh, đúng hướng, phục vụ đắc lực đời sống của Nhân dân, xây dựng nếp sống và làm việc theo pháp luật trong xã hội. Để thực hiện mục tiêu này, năm 2001, Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đon 2001-2010 của Chính phủ đã được tiến hành với bốn nội dung cơ bản: 1) Cải cách thể chế, 2) Cải cách tổ chức bộ máy hành chính, 3) Đổi mới, nâng cao cht lượng đội ngũ cán bộ, công chc, 4) Cải cách tài chính công. Năm 2011, Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đon 2011-2020 tiếp tục được phê duyệt và tiến hành. Trong giai đoạn 2, ngoài 4 nội dung cơ bản trên, có bổ sung thêm 2 nội dung: Cải cách thủ tục hành chính và hiện đại hóa hành chính.

Sau gần 4/5 chặng đường thực hiện Chương trình này, nền hành chính nước ta đã có một bước tiến dài so với nền hành chính thời kỳ bao cấp. Về thể chế, đã bước đầu xây dng pháp lut về kinh tế thị trường như: Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư, Luật chứng khoán,… Về tổ chức bộ máy hành chính nhà nước, đã có nhng thay đổi tiến b, cơ cu, t chc ca Chính ph đã được t chc gn nh, hp lý hơn theo nguyên tc B qun lý đa ngành, đa lĩnh vực như: Bộ Công thương, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lch,… chuyn một số công việc do cơ quan nhà nước qun lý cho các doanh nghip và tổ chức xã hội thực hiện như: công chứng tư, thi hành án dân sự, hoạt động bảo vệ môi trường… Các thủ tục hành chính đã bớt rườm rà, điển hình là việc rà soát bỏ các văn bn lc hu, li thi, áp dụng cơ chế một cửa, một dấu. Về đội ngũ cán bộ, công chức, được chú trọng đổi mi từ khâu tuyển chọn, đánh giá, đến khâu đào to, bi dưỡng… Sự đổi mới của quá trình cải cách hành chính đã mang li những thành tựu đáng ghi nhn trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta những năm vừa qua, từ đó thúc đẩy hình thành, hoàn thiện mô hình Chính phủ kiến tạo phát triển.

Tuy nhiên, quá trình cải cách hành chính nhà nước ở nước ta vẫn còn một số điểm hạn chế có thể thấy khá rõ: về thể chế, chúng ta chưa xây dựng được thể chế kinh tế thị trường đồng bộ, thủ tục hành chính còn rườm rà, phức tạp, chưa phải là nền hành chính phục vụ…; về cán bộ, công chức, khâu tuyển dụng vẫn đề cao vai trò của bằng cấp mà chưa chú trọng đến năng lực thực tế; cán bộ, công chức còn thiếu năng động, sáng tạo trong công việc; tổ chức bộ máy còn cồng kềnh, đến nay nước ta vẫn còn 22 Bộ và cơ quan ngang B. Đặc bit, trong bi cnh phát triển kinh tế thị trường, các bt cp trên có nguy cơ gia tăng do tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường. Để khắc phục được những bất cập, tiến tới xây dựng Chính phủ kiến tạo phát triển với nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hóa, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền, việc đưa ra giải pháp, đặc biệt là những giải pháp mang tính sáng tạo trong quá trình cải cách hành chính là rất cần thiết. Trong các giải pháp về thể chế, tổ chức bộ máy, cán bộ, công chc… được đề cp trong Chương trình tổng thể cải cách hành chính, đã có s vận dụng các yếu tố, các quy lut ca kinh tế th trường, song không hoặc chưa rõ rệt. Nhằm nâng cao hiệu quả cải cách hành chính, góp phn xây dng thành công Chính ph kiến to phát trin nước ta, cần vận dụng hơn na các quy luật, yếu tố của kinh tế thị trường vào thực hiện cải cách nền hành chính nhà nước.

2. Thực tiễn vận dụng các quy luật, yếu tố của kinh tế thị trường vào cải cách hành chính nhà nước ở nước ta và một số giải pháp để xây dựng thành công Chính phủ kiến tạo phát triển

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, quản lý hành chính nhà nước và thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội có mối quan hệ chặt chẽ và tương tác lẫn nhau, trong đó yếu tố quản lý hành chính s tác động đến s phát trin kinh tế theo hướng tích cc hoc tiêu cc. Nếu duy trì cơ chế qun lý hành chính tp trung, quan liêu, bao cp quá lâu trong khi kinh tế - xã hi đã chuyn sang mt hình thái phát trin mi (kinh tế th trường) sẽ rất khó thúc đẩy sự phát triển đất nước trong bối cảnh mới. Thực tế quá trình đổi mới hơn 30 năm qua ở nước ta cho thấy, nền hành chính chậm đổi mới, quan liêu đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế - xã hội, đến khả năng huy động nội lực, thu hút đầu tư nước ngoài và hội nhập khu vực, quốc tế.

Cải cách hành chính phải phù hợp với những quy luật, yếu tố của kinh tế thị trường như: quy luật cung - cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị, tính công khai, tính minh bạch, tính bình đẳng, tính nhanh chóng, tính kịp thời, tính chi phí thực hiện thấp... đồng thời, khắc phục những mặt trái của kinh tế thị trường, các vấn đề xã hội, sự suy thoái đạo đức, lối sống, tham nhũng, hách dịch, cửa quyền.

Cải cách thể chế và thủ tục hành chính

Sự phát triển nhanh chóng của kinh tế thị trường ở nước ta đòi hỏi phải đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, mà cụ thể là thể chế pháp lý về kinh tế thị trường và đơn giản hóa thủ tục hành chính, đáp ng được yêu cu ca các tổ chức, cá nhân và các nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài... Phải tiến hành xây dựng và hoàn thiện pháp luật về kinh tế thị trường, việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật phải tuân thủ các nguyên tắc, quy luật của kinh tế thị trường cũng như tính đến s tác động ca các nguyên tc, quy lut đó, tôn trọng sự điều tiết của thị trường, bảo đảm quyn t do kinh doanh ca các ch th. Các quy định pháp lut v kinh tế th trường và các quy định v t chc b máy vn hành thc hin phát trin kinh tế cn phải bảo đảm tính thng nht, đồng b, hiệu quả, khả thi, công khai, minh bch, kp thi, phòng nga ri ro phát sinh và chi phí thực hiện thấp… Từ đó, tạo nên hành lang pháp lý thuận lợi cho các quan hệ kinh tế - xã hi phát trin lành mnh.

Bên cạnh đó, để bảo đảm cho các quy định pháp lut có tính n định, lâu dài, cần cải cách quy trình làm luật, đánh giá nhu cầu, mức độ cần thiết phải xây dựng các văn bản pháp luật nào, trong lĩnh vực gì, tác động của văn bản pháp luật đến kinh tế - xã hội… Tuy nhiên, để đáp ng yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, trước mắt cần phải tiến hành đồng bộ hóa hệ thống pháp lut mt cách nhanh chóng. Vì vậy, bên cnh vic áp dng quy trình RIA3 vào quá trình xây dng, son thảo văn bản quy phạm pháp luật, cần áp dụng phương pháp “một luật sửa nhiều luật, một nghị định sửa đổi nhiều nghị định” vào quá trình này4.

Đẩy mạnh hơn nữa việc rà soát, loại bỏ các thủ tục hành chính rườm rà, lỗi thời cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội; áp dụng cơ chế một cửa, một dấu vào quá trình cải cách hành chính. Đây là mô hình cải cách được Nhân dân đồng tình, ủng hộ. Để thực hiện thành công mô hình trên, cần phân cấp mạnh hơn thẩm quyền quyết định giải quyết các thủ tục hành chính cho chính quyền quận, huyện, thành phố thuộc tỉnh, thị xã; đào to, bi dưỡng nâng cao kiến thc, k năng, đạo đức công v cho cán bộ, công chc hoạt động trong lĩnh vực quản lý hành chính, nhất là cán bộ, công chức ở bộ phận tiếp nhận và trao trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính. Từ đó s góp phn thu hút đầu tư, đồng thi thúc đẩy các quan hệ kinh tế - xã hi ngày càng phát trin.

Cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước

Để ci cách t chc b máy qun lý hành chính nhà nước thành công, cn tuân theo quy lut cung - cu, nghĩa là có nhu cu mi thành lp cơ quan, t chc. Phi xut phát t nhu cu khách quan, căn c vào chức năng, nhiệm vụ và có s thay đổi trong tng giai đon, tùy thuộc vào nhiệm vụ chính trị và sự phát triển kinh tế - xã hội, do đó có thành lập mới, đồng thời có giải thể những tổ chức cũ không còn phù hợp. Thực tế cho thấy, việc chấm dứt hoạt động của một cơ quan, tổ chức do Nhà nước thành lập không hề đơn giản bởi những lý do khác nhau, trong đó có vấn đề bố trí, sắp xếp vị trí, công việc cho lãnh đạo, cán bộ các cơ quan, t chc b gii th. Hiện nay, Chính phủ đang đẩy mạnh thực hiện Đề án vị trí việc làm nhằm tinh giản biên chế, nâng cao hiu lc, hiu qu làm vic ca đội ngũ cán bộ, công chc. Nếu không tuân theo quy luật cung - cầu sẽ không thể khắc phục được những vấn đề đang còn tồn tại như: tổ chức bộ máy cồng kềnh, biên chế thừa, song chất lượng và hiệu quả hoạt động thấp. Để khc phc tình trng trên, cn vn dng quy luật cung - cầu vào quá trình cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước, cơ quan, t chc nào không cn thiết thì không thành lp, giải thể các cơ quan hoạt động không hiệu quả.

Đổi mới, nâng cao cht lượng đội ngũ cán bộ, công chc

Trong quá trình cải cách hành chính, đổi mới và nâng cao cht lượng đội ngũ cán bộ, công chc là mt trong những nội dung rất quan trọng. Việc tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ, công chức cần vận dụng quy luật cung - cầu, phải xuất phát từ nhu cầu khách quan của các cơ quan, tổ chức của Nhà nước trong quá trình thực hiện công vụ. Có xác định được nhu cầu nhân sự thực sự thì việc tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ, công chức mới có hiệu quả.

Thực tiễn cho thấy, trong những năm gần đây, việc tuyển dụng, bổ nhiệm và đào to, bi dưỡng cán b, công chc phần lớn đang chạy theo những nhu cầu ảo, chưa xuất phát từ sự cần thiết của từng vị trí công tác và khối lượng công việc.

Vận dụng quy luật cung - cầu trong quá trình cải cách hành chính cần phải căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của tổ chức sử dụng và quản lý trực tiếp lao động (cục, vụ, sở, phòng, ban…), thiết kế chi tiết khối lượng công việc, thời gian thực hiện công việc của từng vị trí công tác và số lượng lao động cần cho từng vị trí công tác trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin và đơn giản hóa công tác...

Bên cạnh đó, trong quá trình tuyển dụng, bổ nhiệm và đào to, bi dưỡng cán bộ, công chc có thể vận dụng quy luật cạnh tranh nhằm tạo động lực thúc đẩy sự đổi mi, phát triển.

Cạnh tranh trong tuyển dụng cán b, công chc. Tất cả các vị trí công tác đều phi được tuyn dng thông qua thi tuyển. Các thông tin về vị trí, chỉ tiêu, tiêu chuẩn, điu kin hồ sơ, xét tuyển... đều phi được công b công khai trên các phương tin thông tin đại chúng.

Cạnh tranh trong sử dụng cán bộ, công chức. Sử dụng cán bộ, công chức trong cơ quan nhà nước được thực hiện thông qua hợp đồng lao động có thời hạn và thông qua nhận xét, đánh giá hằng năm. Việc nhận xét, đánh giá từng người cần phải dựa trên các tiêu chí rõ ràng, bảo đảm công khai, minh bch và dân chủ. Người làm tt s được tăng lương, nâng chc. Người vi phm k lut lao động, hiu qu làm việc thấp, không đáp ứng được yêu cầu công việc sẽ bị phê bình, giảm lương hoặc chấm dứt hợp đồng lao động. Một tình trạng khá phổ biến là người lao động chỉ thực sự làm tốt công việc của mình khi họ bị đặt vào thế cạnh tranh, có khả năng bị thay thế, sa thải. Ở một số nước, người ta quan niệm “biên chế cố định” là th tiêu cnh tranh, th tiêu tính t giác vươn lên ca người lao động nên không có hình thc biên chế c định.

Thực tế cho thấy, ở những nước vẫn duy trì “biên chế cố định” thì nền hành chính bảo thủ, trì trệ, không đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Những nước có nền kinh tế - xã hội phát triển mạnh mẽ như Anh, Ôxtrâylia, Hàn Quốc, Xingapo, Trung Quốc, Malaixia... đều là những quốc gia thực hiện quyết liệt cải cách hành chính và cải cách hành chính được tiến hành theo các quy luật kinh tế thị trường.

Cạnh tranh trong bổ nhiệm các chức vụ lãnh đạo. Các vị trí lãnh đạo, quản lý cần thực hiện thông qua bổ nhiệm có thời hạn, thi tuyển hoặc ký hợp đồng, và giống như việc tuyển dụng cán bộ, tất cả đều phải được công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng: tiêu chuẩn, danh sách các ứng viên vào từng chức vụ để quần chúng nhận xét, đánh giá, giúp lãnh đạo có đánh giá khách quan và quyết định chính xác, khuyến khích những người đủ tiêu chuẩn tự ứng cử vào chức vụ lãnh đạo. Bỏ phiếu tín nhiệm dân chủ, công khai theo cấp độ tương ứng là một biện pháp tốt nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm, thúc đẩy sự phấn đấu và giữ gìn phẩm chất của người lãnh đạo. Áp dng quy lut cnh tranh trong các cơ quan hành chính nhà nước chính là gii pháp đổi mi t chc và phương pháp làm vic, khc phc căn bệnh bảo thủ, trì trệ trong bộ máy nhà nước, phát huy được năng lực thực sự của cán bộ, công chức.

Trong nền kinh tế thị trường, khách hàng được các doanh nghiệp coi là “thượng đế”, luôn được coi trọng bởi khách hàng chính là nhân tố hàng đầu đưa đến thành công cho doanh nghiệp. Trong hoạt động công vụ, cán bộ, công chức phải lấy phục vụ Nhân dân là mục đích cao nhất, do vậy, Nhân dân chính là “thượng đế” của các cơ quan, công sở.

Toàn bộ hoạt động quản lý nhà nước phải lấy dân làm gốc, phải dựa vào dân và vì dân. Dân là đối tượng điu chnh và là người chp hành, thực hiện các văn bn quy phm pháp lut, các quy định và thủ tục hành chính. Do đó, nếu trong khâu soạn thảo và tổ chức thực hiện, cơ quan quản lý nhà nước không đặt mình vào vị trí của người dân, đặt ra quá nhiu quy định, thủ tục gây khó khăn, phiền hà và sách nhiễu dân thì sẽ không được Nhân dân ủng hộ, các quy định đó s không thể đi vào cuc sng. Do đó, cần phải đổi mới tư duy và phương pháp xây dựng pháp luật sao cho các quy định, thủ tục đơn giản, dễ hiểu và dễ thực hiện5.

Tôn trọng, lắng nghe, niềm nở, lịch thiệp, nhiệt tình với khách hàng là những nguyên tắc của kinh tế thị trường cần được vận dụng vào phương pháp làm việc ở các công sở. Dân chưa biết thì hướng dẫn, dân chưa hiểu thì tuyên truyền, giải thích cho dân hiểu.

Tổ chức quản lý, sử dụng tài chính công

Tài chính công là một trong những nội dung quan trọng và đặc bit phc tp trong quá trình ci cách hành chính nhà nước, vic cân nhc, la chn, tiếp thu các yếu t cũng như quy lut ca kinh tế th trường vào vn đề này là rất cần thiết. Cần tiếp thu cách thức tổ chức, sử dụng tài chính của doanh nghiệp tư nhân vào quá trình sử dụng ngân sách nhà nước. Vận dụng quy luật giá trị trong quản lý hành chính nhà nước, tài chính công phải được sử dụng hiệu quả như quá trình sử dụng tài chính của một doanh nghiệp tư nhân, tức là tổ chức và sử dụng đơn giản, nhưng tiết kiệm, hiệu quả.

Bên cạnh đó, các chế độ, chính sách để cạnh tranh, thu hút và “giữ chân” nhân tài tại các cơ quan hành chính nhà nước cũng là một vấn đề cần tính đến.

Trên thực tế, lương ca cán b, công chc ở nước ta còn quá thp, chưa bảo đảm được đời sng n định tương đối cho đa s cán b, công chc và gia đình h (nếu xét mc lương thc tế mà h được nhn t Nhà nước). Điều đó không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của những cán bộ, công chức đang làm việc cho Nhà nước, mà còn ảnh hưởng đến đội ngũ cán bộ trẻ luôn muốn mang sức lực, nhiệt huyết của tuổi trẻ phục vụ quê hương, đất nước. Do đó, để giải quyết được vấn đề này, một mặt cần tiến hành tinh giản biên chế, mặt khác cần tăng lương và thưởng cho những người làm việc hiệu quả, có nhiều thành tích trong công tác, đồng thời tạo ra môi trường làm việc năng động, cạnh tranh lành mạnh. Bên cạnh đó, cần có những giải pháp hữu hiệu để hạn chế, ngăn chặn mặt trái của kinh tế thị trường như: gian lận thương mại, tham nhũng, tệ nạn xã hội, khủng hoảng kinh tế, tiền tệ…

Có thể khẳng định, cải cách hành chính nhà nước giữ vai trò quyết định trong việc xây dựng thành công Chính phủ kiến tạo phát triển. Tuy nhiên, để cải cách hành chính thành công là điu không dễ dàng. Trong số các giải pháp cải cách hành chính, xây dng mt nn hành chính phát trin theo các yếu t và các quy lut của kinh tế thị trường là một tất yếu khách quan, đặc bit cn thiết và có tính kh thi. Trong quá trình thc hin Chương trình tng th v ci cách hành chính nhà nước, tùy theo tng ni dung ci cách, cần vận dụng hợp lý, linh hoạt các quy luật, các yếu tố của kinh tế thị trường nhằm xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, góp phn xây dng thành công Chính ph kiến to phát trin Vit Nam.

1. Hà Chính: “Điểm khác biệt của “Chính phủ kiến tạo”, http://baochinhphu.vn/Kinh-te/Diem-khac-biet-cua-Chinh-phu-kien-tao/322519.vgp.

2. ThS. Phạm Thị Minh Thủy:"Giải pháp xây dựng Chính phủ kiến tạo", http://baomoi.com/giai-phap-xay-dung-chinh-phu-kien-tao/c/28791179.ep.

3. RIA thực chất là một quy trình đánh giá, dự báo tác động của pháp luật đối với kinh tế xã hội, đối với những đối tượng chịu tác động của văn bản pháp luật đó… Từ đó, giúp chúng ta trả lời được những câu hỏi như: có cần thiết phải ban hành Luật đó không? Nếu ban hành thì chúng ta phải quy định từng vấn đề như thế nào? Tác động của nó khi ra đời sẽ tốt hay xấu?… Quy định này đã được áp dụng ở tất cả các nước thuộc OECD, Hàn Quốc… Ở Việt Nam, hiện nay chúng ta chưa có một quy trình RIA đầy đủ trong xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, mà mới chỉ có đánh giá tính cần thiết của việc xây dựng một văn bản quy phạm pháp luật.

4. Xem Quy trình ban hành một văn bản quy phạm pháp luật sửa nhiều văn bản quy phạm pháp luật và kiến nghị quy định trong Nghị định hướng dẫn thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Kỷ yếu hội thảo, Bộ Tư pháp, ngày 25/9/2008.

5.  Nguyễn Ninh Thực: “Cải cách hành chính và quy luật kinh tế thị trường”, Tạp chí Khoa học & Tổ quốc, xem http://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-cuu/cai_cach_hanh_chinh_va_quy_luat_kinh_te_thi_truong-f.html

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Bùi Đức Hin: “Thể chế pháp lý về bảo vệ môi trường ở Việt Nam”, thuộc Đề tài khoa hc cp B: Hoàn thiện thể chế pháp lý kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong bối cảnh xây dng Nhà nước pháp quyn và hội nhập quốc tế, Viện Nhà nước và Pháp luật, 2014.

2. Tạ Ngọc Hải: “Bàn về các yếu tố tác động, ảnh hưởng đến cơ cấu công chức trong chế độ công vụ”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 9, 2008.

3. ThS. Phạm Đức Toàn: “Bàn về một số nội dung tiếp tục cải cách nền hành chính Nhà nước ta”, xem http://wwwcaicachhanhchinh.gov.vn/Vietnam/NationalEstablish/1869200712221200090/attachments/1210_9-Trang21%20tc%20t8.rtf.

4. Thu Giang: “Công vụ dưới con mắt của người nước ngoài”, xem http://vneconomy.vn/home/20080826022311445P0C11/cong-vu-qua-con-mat-nguoi-nuoc-ngoai.htm.

TS. Bùi Đức Hiển

Viện Nhà nước và Pháp luật

Bình luận